Những vấn đề tồn tại trong thu hút FDI vại Việt Nam
Sau 25 năm thực hiện chính sách mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài với việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 (một trong những đạo luật đầu tiên của thời kỳ đổi mới) và Luật sửa đổi bổ sung vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000 và năm 2005, cùng với các văn bản dưới luật, Việt Nam đã xây dựng được một khung pháp lý đồng bộ, thông thoáng, phù hợp với thông lệ quốc tế và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoài (ĐTNN).Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là khu vực phát triển năng động, ngày càng phát huy vai trò quan trọng và có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, điều này thể hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, Đầu tư nước ngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư phát triển, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh tích lũy không đáp ứng nhu cầu về đầu tư, nguồn vốn Đầu tư nước ngoài đã thực sự là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển. Trong giai đoạn 2001 – 2005, Đầu tư nước ngoài đã đóng góp 16% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tỷ trọng này tăng lên 24,8% trong thời kỳ 2006 – 2011.
Thứ hai, Đầu tư nước ngoài góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp. Cơ cấu kinh tế cũng có sự chuyển biến mạnh mẽ theo hướng tích cực. Tỷ trọng ngành nông nghiệp từ chỗ chiếm 80% trong năm 1988, đến năm 2011 chỉ còn chiếm 22%, công nghiệp – dịch vụ chiếm 78%. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực có vốn Đầu tư nước ngoài luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước. Năm 1996, tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực Đầu tư nước ngoài là 21,7% trong khi tốc độ tăng trưởng công nghiệp cả nước là 14,2%. Năm 2000 tốc độ này tương ứng là 21,8% và 17,5%. Năm 2005 là 21,2% và 17,1%, năm 2010 là 17,2% và 14,7%.
>>> Xem thêm : Các nghiên cứu thực nghiệm về yếu tố ảnh hưởng thu hút FDI tại Việt Nam
Thứ ba, Đầu tư nước ngoài đóng góp đáng kể vào thu ngân sách và các cân đối vĩ mô. Trong 5 năm 2006 - 2010, thu ngân sách trong khối doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài đạt hơn 10,5 tỷ USD, tăng bình quân trên 20%/năm. Trong năm 2011, thu nộp ngân sách của khu vực Đầu tư nước ngoài (không kể thu từ dầu thô) đạt 3,5 tỉ USD.
Thứ tư, Đầu tư nước ngoài đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam. Khu vực ĐTNN chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Nếu như năm 1995, khu vực Đầu tư nước ngoài, kể cả dầu thô, chỉ chiếm 27% tổng xuất khẩu cả nước, thì đến năm 2011 đã chiếm 59%.
Thứ năm, Đầu tư nước ngoài đóng vai trò nổi bật trong đổi mới và chuyển giao công nghệ ở Việt Nam. Đầu tư nước ngoài đã tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động đổi mới công nghệ, chuyển giao công nghệ ở Việt Nam và góp phần vào việc tăng cường cơ sở vật chất cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Thứ sáu, Đầu tư nước ngoài góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao động, góp phần đào tạo và cải thiện nguồn nhân lực. Tính đến nay, khu vực có vốn Đầu tư nước ngoài đã tạo việc làm cho khoảng 2 triệu lao động trực tiếp và một số lượng lớn lao động gián tiếp khác.
Thứ bảy, Đầu tư nước ngoài đã đưa Việt Nam hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế và mở rộng quan hệ đối ngoại. Cùng với các nhân tố khác, Đầu tư nước ngoàiđã góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Thứ tám, bên cạnh những yếu tố có thể lượng hóa được nêu trên, vai trò của Đầu tư nước ngoài còn thể hiện thông qua những yếu tố không lượng hóa được. Đó là, Đầu tư nước ngoài đã mang đến một phương thức đầu tư kinh doanh mới, từ đó có tác động lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác của nền kinh tế, khơi dậy các nguồn lực đầu tư trong nước. Thông qua sự liên kết giữa doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước, công nghệ và năng lực quản lý, kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp FDI sang các doanh nghiệp trong nước.
No comments:
Post a Comment